Test thở phát hiện vi khuẩn Helicobacter Pylori: giá trị trong theo dõi điều trị

helicobacter_pyloriVi khuẩn Helicobacter Pylori (HP) được 2 nhà khoa học Warren Marshall phát hiện năm 1983 và giành giải Nobel năm 2005. Đây có thể coi như một bước ngoặt rất lớn trong bệnh học ống tiêu hoá. Phát minh này đã góp phần thay đổi rất nhiều trong chẩn đoán và đặc biệt là trong điều trị bệnh lý dạ dày hành tá tràng. HP là vi khuẩn gây nhiễm khuẩn mạn tính thường gặp nhất ở người. Nó tác động đến khoảng hơn 50% dân số thế giới. Tỷ lệ nhiễm HP ở các nước đang phát triển cao hơn ở các nước phát triển. Tại Việt Nam theo một nghiên cứu dịch tễ khoảng 70% dân số nhiễm HP. HP sau khi xâm nhập vào dạ dày, chúng tiết ra các enzyme và độc tố, hoạt hóa hệ thống miễn dịch của cơ thể, tác động vào các yếu tố bảo vệ của dạ dày gâytổn thương niêm mạc dạ dày- tá tràng. Một trong các men hay được sử dụng nhiều nhất trong thực hành lâm sàng để phát hiện ra sự có mặt của HP là men urease. Các nhà khoa học sử dụng test thở phát hiện urease để gián tiếp xác định sự có mặt củavi khuẩn HP trong dạ dày.

Test thở phát hiện HP (urea breath test- UBT) dựa trên quá trình thủy phân urea dưới tác dụng của urease để sản xuất ra CO2 và amoniac. Bệnh nhân khi làm test thở được yêu cầu uống một viên thuốc có chứa urea với đồng vị carbon đượcgắn nhãn (C13 hoặc C14). Sau đó nồng độ C gắn nhãn được đo lường qua khí thở ra. Việc đo lường C13 hay C14 trong khí thở ra có thể đánh giá dạ dày người bệnh có nhiễm vi khuẩn HP  thông qua men urease do vi khuẩn HP tiết ra.

HP 2

Khi nào nên làm test thở phát hiện HP?

Do vai trò gây bệnh quan trọng của HP trong bệnh lý dạ dày hành tá tràng, việc chẩn đoán và điều trị HP là rất cần thiết. HP đã được xếp trong nhóm I các tác nhân gây ung thư ở người. Các nhà khoa học chia làm 2 loại xét nghiệm phát hiện HP: Có và không có sử dụng nội soi. Test thở được coi là tiêu chuẩn vàng trong các test không xâm nhập (không nội soi) để xác định sự nhiễm HP đặc biệt trong theo dõi điều trị. Test thở rất có lợi ở các bệnh nhi do việc tiến hành nội soi ở trẻ em không dễ dàng. Một số bệnh nhân không muốn làm nội soi dạ dày hành tá tràng có thể tiến hành xét nghiệm này nhằm phát hiện HP.  Tuy nhiên các bạn cần chú ý: Test thở chỉ phát hiện Helicobacter pylori chứ không có tác dụng thay thế nội soi để phát hiện các bệnh lý dạ dày hành tá tràng mà bạn mắc phải.

HP3

Bên cạnh đó, test thở còn được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá hiệu quả của điều trị diệt HP do xét nghiệm này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao phát hiện HP dù với một lượng vi khuẩn rất nhỏ. Độ nhạy và độ đặc hiệu của test thở C13 tươngứng khoảng 88-95% và 95-100%. Test thở có thể cho kết quả âm tính giả ở những bệnh nhân đang dùng thuốc giảm tiết axit, bismuth, thuốc kháng sinh và xuất huyết tiêu hóa cao mới khởi phát. Để làm giảm thiểu tỷ lệ âm tính giả, bệnh nhân nên dừng kháng sinh ít nhất bốn tuần và thuốc giảm tiết axit ít nhất hai tuần, tốt nhất là bốn tuần trước khi làm test. Test thở sau điều trị thường được tiến hành 4-6 tuần sau kết thúc điều trị diệt HP. Các bệnh nhân trước khi làm test thở phát hiện HP cần cung cấp thông tin về thuốc hiện tại đang dùng cho các y bác sĩ để đảm bảo chính xác giá trị của xét nghiệm. Xét nghiệm phát hiện kháng thể trong máu không được khuyến khích để theo dõi sau điều trị do kháng thể thường vẫn còn tồn tại trong máu 4 tháng hoặc nhiều tháng sau khi điều trị, kể cả sau khi HP đã được loại bỏ hoàn toàn. Test thở C13 là một trong những test không xâm nhập, không chỉ cho phép xác định dạ dày bạn có nhiễm HP mà còn là test được sử dụng để theo dõi sau điều trị. Sử dụng đồng vị C13 không có hoạt tính phóng xạ, do đó an toàn và có thể sử dụng cho trẻ nhỏ. Đây chính là ưu thế khi làm test thở phát hiện HP ở bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Với cách thức tiến hành đơn giản, không gây khó chịu, cho kếtquả nhanh, nó ngày càng trở thành test phát hiện HP không xâm nhập phổ biến nhất trên thực hành lâm sàng.

BS. Dương Mai Chi

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *