Làm thế nào để chẩn đoán bệnh đái tháo đường

Bệnh đái tháo đường là gì?

Đái tháo đường là tình trạng tăng glucose trong múa do nhiều nguyên nhân  gây nên và nếu không được điều trị và theo dõi định kỳ có thể gây nên các biến chứng khác nhau, đặc biệt ở não, tim và thận…

Có 2 loại đái tháo đường chính:

  • Đái tháo đường typ 1:

Là hậu quả của quá trình huỷ hoại các tế bào beta của đảo tuỵ. Do đó cần phải sử dụng insulin ngoại lai để duy trì chuyển hoá, ngăn ngừa tình trạng nhiễm toan ceton có thể gây hôn mê và tử vong.

  • Đái tháo đường typ 2: thường gặp nhất, đa số bệnh nhân mắc đái tháo đường thể này
  • Các thể đặc biệt khác ít gặp như:
  • Khiếm khuyết chức năng tế bào beta, giảm hoạt tính của insulin do gen
  • Bệnh lý của tụy ngoại tiết
  • Do các bệnh nội tiết khác
  • Nguyên nhân do thuốc hoặc do hóa chất khác.
  • Nguyên nhân do nhiễm trùng
  • Các thể ít gặp, các bệnh nhiễm sắc thể…
  • Đái tháo đường thai kỳ: xảy ra trong thời gian có thai, dễ mắc đái tháo đường vì nhau thai sản xuất ra các chất nuôi thai nhưng cũng có thể làm tăng đường máu.

Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường  theo WHO ; IDF – 2012 dựa vào ít nhất một trong các tiêu chí sau:

  • Mức glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (126 mg/dl) làm 2 lần vào 2 ngày khác nhauhoặc:
  • Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp đường glucose bằng đường uống. Hoặc:
  • HbA1C ≥ 6,5% (48mmol/mol theo Liên đoàn Sinh hóa lâm sàng Quốc tế – IFCC). Hoặc:
  • Có các triệu chứng của đái tháo đường trên lâm sàng và có mức glucose huyết tương tại thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl).

DTD01

Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống:  là kỹ thuật giúp chẩn đoán sớm và chính xác bệnh đái tháo đường.

  • Chỉ định: khi bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ sau nhưng chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán đái tháo đường dựa vào đường máu lúc đói.
  • Đã từng sinh con nặng ≥ 4kg
  • Bị đái tháo đường trong thời gian mang thai
  • Có bố mẹ ruột, anh chị em ruột bị đái tháo đường
  • Trên 65 tuồi
  • Từ 45- 64 tuổi và có lối sống ít vận động thể lực
  • Có rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, béo phì
  • Có hội chứng buồng trứng đa nang
  • Không thực hiện nghiệm pháp khi: bệnh nhân có bệnh cấp tính nặng, đang dùng các loại thuốc như thuốc tránh thai, hormon tuyến giáp và một số loại thuốc khác.
  • Cách thực hiện nghiệm pháp:
  • Chuẩn bị bệnh nhân:

Hai tuần trước khi làm nghiệm pháp người bệnh không dùng các thuốc như: lợi tiểu, thuốc tránh thai, phenytoin; không ăn chế độ kiêng, ăn chế độ ăn giàu carbonhydrat khoảng 150-200g/ngày, không uống rượu, ít nhất 3 ngày .

Trong lúc làm nghiệm pháp không dùng thuốc, hút thuốc lá, tập vận động.

Nghiệm pháp được làm vào buổi sáng sau khi người bệnh nhịn đói khoảng 8-14h.

  • Các bước tiến hành

Người bệnh được lấy máu lần 1 lúc đói (máu tĩnh mạch) à người bệnh uống 75gam glucose với 250ml nước nguỗi, uống trong vòng 5 phút. Sau đó, người bệnh được lấy máu lần 2 sau uống glucose 2 giờ.

  • Nhận định kết quả.
  • Chẩn đoán đái tháo đường khi có: glucose máu sau 2 giờ: ≥11,1 mmol/l (200mg/dl)
  • Chẩn đoán giảm dung nạp Glucose: (140 mg/dl) 7,8 mmol/l đường huyết sau 2 giờ uống Glucose < 11,1 mmol/l (<200 mg/dl)
  • Chẩn đoán không bị đái tháo đường : Đường huyết sau 2 giờ uống Glucose < 7,8 mmol/l.

Các triệu chứng thường gặp của đái tháo đường

DTD02

Triệu chứng điển hình gồm “4 nhiều” là : ăn nhiều, gầy nhiều, uống nhiều và tiểu nhiều:

Người bệnh thấy ăn ngon miệng , có thể thèm ăn đồ ngọt, nhưng gầy sút cân nhiều trong thời gian ngắn.

Người bệnh có cảm giác khát nước liên tục, uống nhiều nước, có thể 3 – 5 lít nước /ngày, môi khô kèm theo đi tiểu nhiều lần, đặc biệt tiểu đêm nhiều làm người bệnh mất ngủ, tăng cảm giác mệt mỏi, có trường hợp người bệnh đi khám vì thấy “nước tiểu có kiến”

Tuy nhiên, các triệu chứng trên chỉ rõ ràng ở một số ít các trường hợp như ở người đái đường mới phát hiện, đường máu tăng cao nhiều. Phần lớn, người bệnh được chẩn đoán đái đường không có triệu chứng phát hiện tình cờ khi đi khám vì bệnh khác hoặc đến khám vì biến chứng của đái đường.

Chẩn đoán sớm bệnh đái tháo đường

Người bệnh nên đi khám ngay bác sĩ khi có một hay nhiều yếu tố nguy cơ sau đây:

  • Tuổi trên 45
  • BMI trên 23
  • Huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và / hoặc huyết áp tâm trương 85 mmHg
  • Trong gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường ở thế hệ cận kề: bố mẹ ruột, anh em ruột, con ruột bị mắc đái tháo đường typ 2
  • Tiền sử chẩn đoán mắc hội chứng chuyển hóa, tiền đái tháo đường
  • Phụ nữ có tiền sử thai sản đặc biệt: đái tháo đường thai kỳ, sinh con nặng ≥ 4kg, sẩy thai tự nhiên nhiều lần, thai lưu…
  • Người có rối loạn mỡ máu; đặc biệt khi HDL – C dưới 0,9 mmol/l và triglycerid trên 2,2 mmol/l

Các bước tiến hành: người bệnh đến khám được sàng lọc bằng câu hỏi, chọn ra các yếu tố nguy cơ. Sau đó, người bệnh được chẩn đoán xác định theo các tiêu chuẩn WHO. IDF – 2012.

Trình tự tiến hành: WHO-2011:

DTD03

BS. Lê Thanh Huyền

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *