Loãng xương: một vấn đề sức khỏe thường gặp

Loãng xương là một thuật ngữ khá thông dụng trong đời sống. Tại phòng khám chuyên khoa cơ xương khớp thuộc khoa Nội tổng hợp bệnh viện đại học Y Hà Nội hay khi khám sức khỏe cho các cơ quan, chúng tôi thường nhận được câu hỏi của bệnh nhân hay các đối tượng đi khám sức khỏe về bệnh loãng xương như: Thế nào là bệnh loãng xương? Làm thế nào để chẩn đoán loãng xương? Những ai cần đi đo mật độ xương? Trong nội dung bài viết này chúng tôi sẽ giải đáp những băn khoăn trên.

Loang xuong
Định nghĩa bệnh loãng xương

loang-xuongLoãng xương là tình trạng đặc trưng bởi giảm đậm độ xương, giảm sức mạnh của xương và gây ra gãy xương. Loãng xương ảnh hưởng chủ yếu đến phần xốp của xương. Rối loạn này của bộ xương làm yếu xương và gây ra gãy xương. Thiểu xương là tình trạng mật độ xương giảm hơn bình thường nhưng chưa đến mức độ của loãng xương.
Xương bị ảnh hưởng của loãng xương có thể bị gãy do những chấn thương rất nhẹ mà bình thường không thể gây ra gãy xương. Gãy xương có thể gãy rời (như ở cổ xương đùi) hay bị xẹp (như ở thân các đốt sống). Cột sống, cổ xương đùi, xương sườn và xương cổ tay thường hay bị gãy khi có loãng xương.

 

Chẩn đoán loãng xương

loang-xuong 2loang-xuong 3

Hiện nay Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) quy định dùng phương pháp đo mật độ khoáng hóa của xương để chẩn đoán loãng xương. Đo mật độ xương còn cho phép chẩn đoán loãng xương ở giai đoạn sớm, khi chưa có những biến chứng nặng nề như gãy xương. Có nhiều phương pháp đo mật độ xương như bằng siêu âm, X quang, hay cắt lớp vi tính,..Tuy nhiên tổ chức y tế thế giới hiện nay công nhận phương pháp đo mật độ xương bằng tia X đối quang kép (gọi tắt là DEXA) là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán loãng xương. Đo mật độ xương bằng siêu âm tuy là phương pháp đơn giản, giá trị của nó đang còn được nghiên cứu nên chỉ dùng để sàng lọc loãng xương. Hiện nay tại bệnh viện đại học Y Hà Nội đang đo mật độ xương bằng máy DEXA với độ chính xác cao.
Tại sao bạn phải phát hiện sớm bệnh loãng xương
Theo nhận định chung của tổ chức loãng xương quốc tế (IOF), loãng xương là một bệnh phổ biến trên toàn thế giới. Phụ nữ và đàn ông đều có thể mắc bệnh loãng xương, thường có khoảng 1/3 phụ nữ và 1/8 đàn ông trên thế giới mắc bệnh loãng xương. Bệnh loãng xương diễn biến từ từ và thầm lặng. Người bị loãng xương thường không biết mình bị bệnh, cho đến khi bị biến chứng gãy xương. Tuy nhiên, có thể phòng ngừa bệnh loãng xương nếu bệnh nhân được chẩn đoán sớm và áp dụng những phương pháp điều trị thích hợp. Hiệu quả của chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời có thể làm giảm 50% nguy cơ gãy xương do loãng xương.
Đối tượng cần đo mật độ xương
Với những người từ 50 tuổi trở lên
– Tất cả phụ nữ và nam giới trên 65 tuổi.
– Phụ nữ mãn kinh và nam giới tuổi từ 50 đến 65 với các yếu tố nguy cơ lâm sàng:
– Gãy xương do va chạm nhẹ sau tuổi 40
– Dùng glucocorticoid kéo dài (trên 3 tháng trong năm trước đó với liều tương đương prednisone >7,5mg/ngày
– Dùng các thuốc có nguy cơ cao
– Có bố hoặc mẹ có gãy cổ xương đùi
– Xẹp đốt sống hay thiểu xương trên phim Xquang
– Hút thuốc lá
– Nghiện rượu
– Trọng lượng cơ thể thấp (BMI < 19kg/m2)
– Có các bệnh mãn tính như: viêm khớp dạng thấp, cường cận giáp, đái tháo đường type I, mãn kinh sớm trước 45 tuổi, suy dinh dưỡng, hội chứng kém hấp thu, bệnh gan mãn tính, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh viêm ruột mãn tính,…
Với những người dưới 50 tuổi
– Dễ gãy xương
– Dùng thuốc glucocorticoid kéo dài
– Dùng các thuốc có nguy cơ cao khác
– Suy sinh dục hay mãn kinh sớm
– Hội chứng kém hấp thu
– Cường tuyến cận giáp trạng nguyên phát
Tóm lại, chỉ nên đo MĐX ở những người có nguy cơ cao bị LX hay nghi ngờ bị LX. Chỉ khi đó đo MĐX mới phát huy hết tác dụng của nó. Nếu như không có chỉ định điều trị sau khi đo MĐX, chỉ nên lặp lại đo MĐX sau 2-3 năm, thậm chí 4 năm. Để phát hiện thay đổi MĐX 2-3% cần phải 1-1,5 năm nếu như sai số đó là 1%, và 5 năm nếu sai số của máy là 5%. Khi đo lại, cần đo ở cùng một máy trên cùng một vị trí. Trong trường hợp điều trị, có thể đo lặp lại MĐX ở cột sống thắt lưng vì tác dụng của thuốc ở vị trí này khá rõ rệt.

BS. Phạm Văn Tú

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *